Nếu nói Hà Nam là đất của những làn điệu dân ca, đến giờ càng không sai! Trong bộn bề cuộc sống, những câu hát luôn đi cùng với tâm trạng và tình cảm con người,  thay cho lời nói, thay cho sự thổ lộ tâm tình, thay cho những dãi dầu mắc mớ… người lao động Hà Nam thời xưa đã hát dân ca, sử dụng dân ca trong giao tiếp thường ngày. Một vùng đất nghèo, nơi nào cũng có chợ, có bến sông con đò… trở thành điều kiện để hát xẩm tồn tại. Xẩm Hà Nam mang đặc trưng Hà Nam, và người mang nó trở lại đời sống xã hội hiện đại chính là người đã sưu tầm những làn điệu dân ca Phạm Trọng Lực.

Nhạc sỹ Phạm Trọng Lực (ngoài cùng bên trái) nỗ lực mang hát xẩm trở lại đời sống hiện đại ở Hà Nam.

Ông Phạm Trọng Lực sau khi hoàn thành chương trình nghiên cứu sưu tầm dân ca Hà Nam đã chính thức bắt tay làm “Hát Xẩm Hà Nam”. Năm 1997, ông đi về những vùng quê Kim Bảng, Bình Lục, Thanh Liêm, Lý Nhân để tìm những nghệ nhân hát xẩm. Thường người ta cứ nghĩ, hát xẩm chỉ có ở Hải Phòng, Hà Nội, Ninh Bình, một số nơi khác thuộc Bắc Bộ, thế nhưng quan điểm của ông Lực lại khác. Nơi nào có chợ, nơi nào có những người nghèo khổ sống, vật vã với cuộc sống mưu sinh, có đồng ruộng, có làng mạc, có bến bãi… nơi đó có hát xẩm. Bởi vì, xẩm chợ là điệu đặc trưng phổ biến của hát xẩm. 

Lời ca của những bài xẩm thực chất được chuyển thể từ tục ngữ, ca dao, hoặc có mối quan hệ mật thiết với tục ngữ, ca dao, dân ca, điệu nhạc vùng châu thổ sông Hồng. Hát xẩm Hải Phòng mang đặc trưng Hải Phòng, hát xẩm Hà Nội mang đặc trưng Hà Nội, với Hà Nam cũng thế. Nhưng đặc điểm chung của hát xẩm vẫn là những sáng tác truyền miệng, phổ biến tục ngữ dân gian, tâm thức dân gian qua những truyện cổ, truyện nôm hay cổ tích.

Người hát xẩm thường là những người tàn tật, chủ yếu là người mù, họ nhìn được lòng người, nhìn vào lòng mình, thổ lộ lòng mình và khát khao vươn tới cao xanh. Họ ôm đàn, cầm trống, ngồi ở góc chợ, quán chợ, hay bến sông con đò, nơi có nhiều người qua lại để hát, để dãi dầu tâm can kiếm tiền.

Nghệ nhân Phạm Trọng Lực cho rằng: “Cái quý giá ở những người hát xẩm thời trước là lao động bằng nghề hát để kiếm tiền. Họ không ỷ lại vào chuyện mình bị tàn tật để xin không, bố thí. Hơn nữa, chính họ là những người chăm chút cho nghệ thuật tồn tại, sống trong đời sống như một phần không thể thiếu của xã hội đương thời”.

Ông Lực cũng cho rằng, hát xẩm cùng dạng với hát chèo khi nội dung của nhiều bài nói đến lòng trung thực và đức hiếu nghĩa của con người. Trong hát xẩm người ta có quyền đưa Trống quân, hát ru cò lả vào hát… Thí dụ, hát xẩm chợ: “Ai về chợ huyện Thanh Liêm/ Hỏi thăm cô Tú biết đánh vần hay chưa/ Cô Tú biết đánh vần năm ngoái, năm xưa/ Năm nay quên hết nên chưa làm gì”.

Rồi khi đưa hát ru vào xẩm, thì: “Nhớ khi anh mới phải lòng/ Sớm quanh ngõ trước (ớ ờ) tối vòng ngõ sau/ Đêm khuya sương đẫm cành dâu/ Anh treo vạt áo che đầu cho em”. Nghỉ, chuyển sang Trống quân: “Nhớ khi thời hương lửa bén duyên/ thì thời vạch đất thề nguyền ta có nhau/ Ra ngoài, thời, chồng trước vợ sau/ Sớm chiều quấn quýt như sâu với tằm/ Đến khi con bế con bồng/ Đón anh ngõ trước thì anh vòng cổng sau/ Đêm khuya sương đẫm cành dâu/ Chờ anh mỏi mắt canh thâu chưa về…”.

Ngày nay, đời sống phát triển, đô thị hóa nông thôn đang diễn ra nhanh chóng, chợ quê không còn đông đúc tấp nập như xưa, bến sông con đò cũng vắng bóng người qua. Những cây cầu bắc qua sông kéo gần nhịp khoảng cách đôi bờ, xe người tấp nập qua lại… Người nghèo vẫn còn, người mù vẫn còn nhưng khó có thể tìm kiếm công việc từ những quán chợ, bến sông nữa.

Hát xẩm dần mai một, song, không bao giờ mất hẳn. “Nó vẫn vang vọng trong tâm thức con người. Một đêm khuya thanh vắng, bỗng tiếng đàn nhị réo rắt vang lên, hòa vào tiếng hát ai oán, thê thầm của người hát… chẳng ai có thể ngủ yên. Hát xẩm đánh thức lòng người, vực dậy tâm hồn hướng về cái thiện, hướng về một nơi tăm tối của ngõ đời nơi có những con người đang cầu mong ánh sáng, cầu mong hạnh phúc, nở nụ cười mai mỉa vì những trái ngang, éo le vẫn tồn tại trong đời người. Tôi cho đó mạch sống của hát xẩm. Mạch sống ấy có thể bị đứt đoạn mà không thể biến mất trong đời sống. Nó ra đời để phục vụ nhu cầu con người và khi con người còn rung động thì hát xẩm chưa thể mất đi” – nhạc sỹ Phạm Trọng Lực nói.

Từ lý do ấy, ông đã mang hát xẩm trở lại đời sống của người dân Hà Nam. Ở một khía cạnh nào đó, những bài hát xẩm vẫn còn phù hợp với thực tiễn đời sống hôm nay, như nhà nghiên cứu Trần Việt Ngữ viết: “Hát xẩm còn là bản tình ca dài đủ mọi cung bậc được hát và đàn hết lòng, song nghệ nhân ít chịu đắm mình hòa nhập vào các tình huống, mà dẫu da diết thắm thiết mức nào, vẫn “ bị” thể hiện một chút hài hước bàng quan, có khi đùa cợt nhẹ nhàng… Nhưng hát xẩm vẫn cho thấy rõ tính hiện thực chiến đấu gắn bó với tính nhân văn trữ tình hòa lẫn với niềm lạc quan cao độ: Tin yêu vào cuộc sống con người, vào trí lực và khả năng của mình với những ước mơ lãng mạn. Ở hát xẩm, tiếng cười nhiều hơn, chính ra lấn át tiếng oán than”.

Nhạc sỹ Phạm Trọng Lực đã chép nhạc cho hơn 20 bài hát xẩm về Hà Nam. Ông đã cùng một số cộng sự khác xây dựng chương trình riêng và mong muốn trong thời gian gần nhất, hát xẩm Hà Nam sẽ chính thức phổ biến trong công chúng yêu nghệ thuật dân gian. Nó sẽ cùng với dân ca Hà Nam, hát Văn, hát chèo, hát Lải Lê, hát Dậm Quyển Sơn, hát Trống quân Liêm Thuận… làm giàu thêm đời sống văn hóa văn nghệ dân gian của đất và người Hà Nam.

Giang Nam