Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông - Chương 3 (Phần 3)

Ngày 24 tháng 5 năm 1956, Việt Nam Cộng hòa ra thông cáo nhấn mạnh quần đảo Trường Sa cùng với quần đảo Hoàng Sa đã "luôn luôn là một phần của Việt Nam".

Ngư dân Đà Nẵng đánh bắt cá tại khu vực biển quần đảo Hoàng Sa. Ảnh: tuoitre.vn
III. Lợi dụng Việt Nam đang phải đối phó với sự trở lại của thực dân Pháp và lo kháng chiến chống Pháp, quân Tưởng Giới Thạch và sau đó là quân CHND Trung Hoa đã tiến hành chiếm đóng các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (1945 - 1956)

Vào lúc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đang phải đối phó với cuộc chiến tranh toàn diện với quân đội viễn chinh Pháp sắp xảy ra, thì ngày 26/10/1946, hạm đội đặc biệt của Trung Hoa Dân quốc gồm 4 chiến hạm, mỗi chiếc chở một số đại diện của các cơ quan và 59 binh sĩ thuộc trung đội cảnh vệ độc lập của hải quân lấy cớ giải giáp quân Nhật ra chiếm các đảo ở quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. Ngày 29/11/1946, các tàu Vĩnh Hưng và Trung Kiên tới quần đảo Hoàng Sa và đổ bộ lên đây. Tàu Thái Bình và Trung Nghiệp đến Trường Sa.

Cũng trong thời gian này, một công chức tên là Bai Meichu của chính quyền Đài Loan đã vẽ và xuất bản bản đồ Nam Hải chư đảo, trong đó có thể hiện đường biên giới bao trùm khoảng 80% diện tích Biển Đông, thường được gọi là đường biên giới "lưỡi bò" mà không dựa vào bất cứ một tiêu chuẩn nào theo luật pháp và thực tiễn quốc tế. Chính tác giả và nhiều học giả Trưng Quốc đã không thế đưa ra bất kỳ lý do nào để biện minh cho đường biên giới biển đã được thể hiện một cách tùy tiện này. Tuy vậy, phía Trung Quốc đã dựa vào bản đổ này để liên tục tung ra các loại bản đồ Trung Quốc có vẽ đường biên giới biên 9 đoạn và đã chính thức hóa đường biên giới biển đầy tham vọng này tại một công hàm mà họ đã gửi lên Liên Hợp quốc vào tháng 5 năm 2009 để phản đối Hồ sơ Ranh giới ngoài thềm lục địa do Việt Nam và Malaysia nộp lên ủy ban Ranh giới Thềm Lục địa của Liên Hợp quốc.

Ngày 13 tháng 1 năm 1947, Chính phủ Pháp chính thức phản đối sự chiếm đóng bất hợp pháp của Trung Quốc đối với quần đảo Hoàng Sa, trong đó, Pháp đã nêu lên những bảo lưu về hậu quả pháp lý từ việc chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của quân đội Trung Hoa dân quốc, đồng thời nhắc lại đề nghị tìm giải pháp giải quyết tranh chấp bằng trọng tài và ngày 17/10/1947 thông báo chiến hạm Tonkinois của Pháp được phái đến Hoàng Sa để yêu cầu quân Trung Quốc rút khỏi Phú Lâm. Pháp gửi một phân đội lính, gồm 10 lính Pháp và 17 lính Việt Nam đổ bộ đóng một đồn ở đảo Hoàng Sa và quyết định lập đài khí tượng trên đảo này. Chính phủ Trung Quốc phản kháng và các cuộc thương lượng được tiến hành từ ngày 25 tháng 2 đến ngày 04 tháng 7 năm 1947 tại Paris. Tại đây, Chính phủ Trung Quốc từ chối không châp nhận việc nhờ Trọng tài quốc tế giải quyết do Pháp đề nghị.

Trong hoàn cảnh lịch sử cuối năm 1946 đầu năm 1947, Việt Nam đa giành được độc lập từ năm 1945, không còn ràng buộc vào hiệp định Patenôtre (1884) với Pháp, song Pháp cho rằng theo Hiệp định sơ bộ ngày 6 tháng 3 năm 1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hoà còn nằm trong khối Liên hiệp Pháp, về ngoại giao vẫn thuộc về Pháp, nên Pháp vẫn thực thi quyền đại diện Việt Nam trong vấn đề chống lại xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Với Hiệp định ngày 8/3/1949, Pháp gây dựng được chính quyền thân Pháp còn gọi là Quốc gia Việt Nam do cựu hoàng Bảo Đại đứng đầu để củng cố cơ sở pháp lý. Tuy nhiên, trong thực tế quân Pháp vẫn làm chủ Biển Đông, trong đó có quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa.

Năm 1949, Tổ chức Khí tượng thế giới (OMM) chính thức công nhận các trạm khí tượng do Pháp xây dựng và đăng ký vào danh sách các trạm khí tượng quốc tế, với các số hiệu: Trạm Phú Lâm số 48859, Trạm Hoàng Sa số 48860, Trạm Ba Bình (quần đảo Trường Sa) số 48419.

Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Pháp ký với Bảo Đại Hiệp định Hạ Long trao trả độc lập cho chính phủ Bảo Đại vào tháng 4, Đổng lý Văn phòng, Hoàng thân Bửu Lộc, tuyên bố khẳng định lại chủ quyền của Việt Nam đôi với Hoàng Sa.

Ngày 01 tháng 10 năm 1949, nước CHND Trung Hoa ra đời; đơn vị đồn trú của Trung Hoa Dân quôc phải rút khỏi đảo Phú Lâm, trong khi đó Pháp vẫn duy trì quân đồn trú tại đảo Hoàng Sa.

Ngày 14 tháng 10 năm 1950, Chính phủ Pháp chính thức trao lại cho chính phủ Bảo Đại việc quản lý và bảo vệ quần đảo Hoàng Sa. Thủ hiến Trung phần, Phan Văn Giáo, đã chủ trì việc bàn giao này.

Hội nghị San Francisco có 51 quốc gia tham dự từ ngày 5 tháng 9 đến ngày 8 tháng 9 năm 1951, ký kết Hoà ước với Nhật. Ngày 5/9/1951, tại phiên họp toàn thể mở rộng, Gromyko (Ngoại trưởng Liên Xô cũ từ 1957 - 1985) đã đưa đề nghị tu chinh 13 khoản của dự thảo Hòa ước trong đó có nội dung: Nhật thừa nhận chủ quyền của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa đối với đảo Hoàng Sa và những đảo xa hơn nữa ờ phía Nam. Khoản tu chỉnh này đã bị Hội nghị bác bỏ với 48 phiếu chống và 3 phiếu thuận.

Ngày 7/9/1951, Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chinh phủ Bảo Đại long trọng tuyên bố rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ của Việt Nam: "Et comme il faut franchement profiter de toutes occasions pour etouffer les germes de discorde, nous affirmons nos droits sur les Ils de Spratley et de Paracel qui de tout temps ont fait partie du Viet Nam".

Không một đại biểu nào trong Hội nghị bình luận gì về tuyên bố này.

Kết thúc Hội nghị là ký kết Hoà ước với Nhật ngày 8 tháng 9 năm 1951. Trong Hòa ước này có điều 2, đoạn 7, ghi rõ: "Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tham vọng đối với các quần đảo Paracel và Spratly" (khoản f).

Ngày 24/8/1951, lần đầu tiên Tân Hoa xã lên tiếng tranh cãi về quyền của Pháp và những tham vọng của Philippines và kiên quyết khẳng định quyền của Trung Quốc.

Khi ra thông báo về bản dự thảo Hòa ước với Nhật ở San Francisco, ngày 15 tháng 8 năm 1951, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Chu Ân Lai ra bản tuyên bố khai khẳng định cái gọi là "tính lâu đời của các quyền của Trung Quôc đối với quần đảo, trong khi Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân quốc không tham dự Hội nghị này.

Như thế dụng tình hình rối ren, Nhật đầu hàng Đổng minh, quân Tưởng Giới Thạch lợi dụng việc giải giáp quân Nhật từ vĩ tuyến 16 trở ra Bắc theo Hiệp Định Postdam, đã đem quân chiếm giữ đảo Phú Lâm (ĩle de Boisée) cuối năm 1946 thuộc quần đảo Hoàng Sa và đảo Ba Bình (Itu Aba) thuộc quần đảo Trường Sa, vào đầu năm 1947. Đến năm 1950, khi quân Trung Hoa Dân quốc đã rút ra khỏi Hoàng Sa và Trường Sa và Hoà ước San Francisco đã buộc Nhật từ bỏ sự chiếm đóng hai quần đảo này, thì Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Trần Văn Hữu của chính phủ Bảo Đại đã long trọng tuyên bố rằng hai quân đao Hoàng Sa và Trường Sa là lãnh thổ Việt Nam.

Hiệp định Genève ký kết ngày 20 tháng 7 năm 1954 chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương, công nhận độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thống nhất của nước Việt Nam. Điều 1 quy định đường ranh tạm thời về quân sự được ấn định bởi sông Bến Hải (ở vĩ tuyến 17). Đường ranh tạm thời này cũng được kéo dài bằng một đường thẳng từ bờ biến ra ngoài khơi theo điều 4 của Hiệp định. Cũng theo điều 14 của bản Hiệp định, trong khi chờ đợi cuộc tông tuyến cử đưa lại sự thống nhât cho Việt Nam, bên đương sự và quân đội do thoả hiệp tập kết ở khu nào sẽ đảm nhiệm việc hành chính trong khu tập kết đó. Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa ờ Biển Đông ở dưới vĩ tuyến 17 sẽ đặt dưới sự quản lý hành chính của phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Tháng 4 năm 1956, khi quân viễn chinh Pháp rút khỏi Đông Dương, quân đội Quốc gia Việt Nam sau gọi là Việt Nam Cộng hòa, đã chiếm đóng các đảo phía tây của quần đảo Hoàng Sa, bao gồm đảo Hoàng Sa, với số quân là 40 người. Cũng trong thời gian này, Trung Quốc bí mật đưa quân ra chiếm đóng nhóm phía đông quần đảo Hoàng Sa, trong đó có đảo Phú Lâm và Linh Côn.

Một góc đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh: tuoitre.vn

Ngày 16 tháng 5 năm 1956, giám đốc Viện Hàng hải của Philippines tại Manila, Thomas Clomas (anh trai của Filemon Clomas), thuyền trưởng tàu PMI, đưa sinh viên của trường Hàng Hải ra khu vực quần đảo Trường Sa, đổ bộ lên vài đảo, cắm cờ và tuyên bố quyền sở hữu các đảo mà họ cho là không có người (đất vô chủ) và đặt tên là Freedomland, tiếng Philippines là Kalayaan) đã ra thông báo yêu sách chủ quyền toàn bộ lãnh thổ, do khám phá và chiếm hữu 33 đảo, bãi cát, cồn cát, mỏm san hô, bãi ngầm của quần đảo Trường Sa và đã đặt tên là "Vùng đất tự do", đồng thời gửi thư cho Phó Tổng thống Philippines là Carlos P.Garcia đề nghị chính phủ Philippines bảo hộ cho sự chiếm hữu của ông đối với quần đảo này.

Ngày 19 tháng 5 năm 1956, trong cuộc họp báo tại Manila, Garcia không khẳng định Philippines có chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa mà tuyên bố mập mờ rằng nhóm đảo ở Biển Đông, kể cả đảo Ba Bình và Trường Sa "đáng lý phải thuộc về Philippines vì chúng ở gần Philippines".

Ngày 24 tháng 5 năm 1956, Việt Nam Cộng hòa ra thông cáo nhấn mạnh quần đảo Trường Sa cùng với quần đảo Hoàng Sa đã "luôn luôn là một phần của Việt Nam".

Ngày 8 tháng 6 năm 1956, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa đã tuyên bố khẳng định chủ quyền từ lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngày 6 tháng 7 năm 1956, Ngoại trưởng Philippines Clomas R. Garcia đã viết thư trả lời Thomas Clomas rằng: trừ 7 đảo mà quốc tế gọi là Spratly, tất cả các đảo, bãi cạn khác đều là "đất vô chủ", mọi công dân Philippines đều có quyền sinh cơ lập nghiệp. Đối với 7 đảo thuộc quần đảo Spratly, chính phủ Philippines coi là những đảo thuộc chế độ "giám hộ" của các quốc gia đồng minh, nên Philippines có quyền khai thác, lập nghiệp. Các đảo này kế cận với Philippines, có nhiều liên quan đến nền quốc phòng và an ninh của Philippines.

Ngày 11 tháng 7 năm 1956, lực lượng vũ trang của Trung Hoa Dân quốc đổ bộ lên đảo Ba Bình, duy trì một căn cứ hải quân nhỏ và một tiểu đoàn lính hải quân trên đảo Ba Bình.

Ngày 22 tháng 8 năm 1956, tàu hộ tống Trung Đông HQ04 do thuyền trưởng Trần Văn Phấn đưa một đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hòa ra quần đảo Trường Sa dựng cờ, cắm bia chủ quyền, bảo vệ quần đảo này trước âm mưu và hành động xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Đài Loan, Philippines.

(Còn nữa)

Bình luận bài viết

Bình luận

BÁO HÀ NAM ĐIỆN TỬ

Giấy phép xuất bản số 68/GP-BTTTT do Bộ Thông tin - Truyền thông cấp ngày 16/2/2017

Địa chỉ: Đình Tràng, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Tổng Biên tập: Lê Hồng Kỳ

Điện thoại: (0226) 3852.773 - 3853.342 | Fax: (0226)3853.342

Email: baohanam.dientu@gmail.com

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.