Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông - Chương 2 (Phần 1)

Các vùng biển và thềm lục địa của quốc gia ven biển không chỉ đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia ven biển mà còn có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung.

Việc xác lập các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam

1.Cơ sở pháp lý để xác lập các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam

Các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia là bộ phận cấu thành, không thể thiếu được của bất kỳ quốc gia ven biển nào. Nó gắn liền với những lợi ích về chính trị, kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của quốc gia ven biển. Do đó, các vùng biển và thềm lục địa của quốc gia là phạm vi không gian và nền tảng vật chất cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia ven biển; đồng thời nó còn liên quan đến các vùng biển của các quốc gia khác, trước hết là các quốc gia láng giềng hoặc các quốc gia trong khu vực.

Một góc đảo An Bang, quần đảo Trường Sa.  Ảnh: TTXVN

Các vùng biển và thềm lục địa của quốc gia ven biển không chỉ đặc biệt quan trọng đối với mọi quốc gia ven biển mà còn có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ quốc tế nói chung. Trong lịch sử từ trước đến nay, vấn đề xác định phạm vi các vùng biển luôn luôn là vấn đề quan trọng và là đề tài phong phú, phức tạp của nhiều diễn đàn quốc tế. Trong nhiều trường hợp, các tranh chấp về ranh giới các vùng biển giữa các quốc gia hữu quan cũng đã diễn ra khá gay gắt và có khi là nguyên nhân hoặc nguồn gốc của nhiều cuộc chiến tranh ở các qui mô khác nhau giữa các quốc gia.

Sự hình thành và phát triển các vùng biển của quốc gia ven biển gắn liền và được xác định với sự hình thành và phát triển của luật pháp quốc gia và quốc tế về biển trong quá trình lịch sử khai thác và sử dụng biển của nhân loại.

Từ khi xuất hiện quốc gia, các nước ven biển luôn luôn có xu hướng mở rộng quyền lực của mình ra hướng biển. Đồng thời, một số cường quốc biển lại muốn duy trì quyền tự do hoạt động trên biển để khai thác tài nguyên và chinh phục thuộc địa. Trong quá trình đấu tranh đó, xuất hiện các nguyên tắc, quy định điều chỉnh các mối quan hệ và lợi ích của các quốc gia khác nhau trên biển, tạo thành cơ sở cho luật pháp quốc tế về biển.

Ngay từ thời xa xưa, người Phênixi và người Hy Lạp ở Địa Trung Hải đã thừa nhận sự cần thiết phải bảo vệ một dải biển ven bờ. Vào thế kỷ thứ XV, hai quốc gia biển hùng mạnh là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha kình địch nhau dữ dội trên biển và Giáo hoàng Alecxanđơrơ VI đã ra sắc chỉ Inter Coetera ngày 4/5/1493 chia đại dương làm hai khu vực ảnh hưởng cho Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha; thực chất đó là đường phân chia khu vực truyền đạo, nhưng hai quốc gia này đã nhanh chóng chuyển thành khu vực ảnh hưởng của họ. Ngày 7/6/1494, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đã ký Hiệp ước Torđesillas phân chia vùng biển, đường chia dịch cách đường của Giáo hoàng Alecxanđơrơ VI 370 lệch về phía ngoài đảo Cap Vert.

Phải một thế kỷ sau (thế kỷ thứ XVI), quyền thống trị các con đường biển và đại dương của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mới gặp phải thử thách thật sự bởi sự nổi lên của Hà Lan, với tư cách là một cường quốc hàng hải, thương mại mới. Đây chính là thời điểm lịch sử bắt đầu sự phát triển một cách có hệ thống Luật Biển thế giới.

Hung Grôttiut - một luật gia nổi tiếng của Hà Lan, đã có tác phẩm "Mare Liberum" - "Tự do biển cả" (năm 1609) và Deive Bekku Ac Pacis - "Luật chiến tranh và hoà bình" (năm 1625), trong đó ông bảo vệ quyền của mọi người được buôn bán, bác bỏ quyền của Bồ Đào Nha đối với Ấn Độ, cũng như với biển theo sắc lệnh của Giáo Hoàng và cho rằng biển và đại dương được tạo nên cho loài người sử dụng theo luật của tạo hoá, biển và đại dương phải được tự do để hàng hải, không ai có thể có một danh nghĩa nào đối với đại dương vì đại dương không thể nào bị chiếm hữu.

Như vậy là từ những ngày đầu tiên của Luật Biển và quan hệ quốc tế trên biển, người ta đã thấy cả hai khuynh hướng bảo vệ tự do đi lại và thương mại trên biển cả, đồng thời với khái niệm một quốc gia ven biển có thể mở rộng quyền tài phán quốc gia ra một dải biển hẹp giống như trên đất liền - chính xác là trên một giới hạn biển mà sức mạnh của quốc gia đó cho phép.

Năm 1702, một luật gia Hà Lan khác, ông Van Bynkershoeckd, đã đưa ra ý kiến rằng "quyền lực quốc gia chấm dứt tại nơi sức mạnh vũ khí của quốc gia đã chấm dứt". Sau đó, năm 1782, ông F.Galiani người I-ta-li-a đã liên kết tầm bắn của súng thần công thời đó là 3 hải lý với bề rộng của dải biển ven bờ mà quốc gia ven biển có thể mở rộng chủ quyền.

Vào thế kỷ XIX, nguyên tắc 3 hải lý đã được nước Anh - cường quốc hàng hải mạnh nhất đương thời chấp nhận và áp dụng. Ngoài quy định về lãnh hải 3 hải lý, gần như tất cả các quốc gia, vào lúc này hay lúc khác, lại bắt đầu thi hành quyền kiểm soát hoặc có ý định thi hành quyền kiểm soát rộng hơn ra vùng tiếp giáp nằm ngoài lãnh hải nhằm mục đích an ninh, bao gồm chống buôn lậu, bệnh dịch, đánh bắt trộm hải sản.

Cuối thế kỷ thứ XIX, Viện Luật quốc tế Paris cho rằng, nguyên tắc lãnh hải 3 hải lý thông thường được chấp nhận trước đây là không đủ để bảo vệ nghề cá của quốc gia ven biển. Việc qua lại các eo biển quốc tế cũng là vấn đề gay cấn. Trên thực tế nhiều nước có các quy định khác nhau về bề rộng lãnh hải (4 và 6 hải lý) và phạm vi bảo vệ nghề cá.

Sau chiến tranh thế giới thứ I (năm 1930), Hội Quốc liên lần đầu tiên triệu tập Hội nghị pháp điển hoá luật quốc tế tại LaHay; trong Hội nghị này, người ta thừa nhận chủ quyền của quốc gia ven biển đối với lãnh hải và quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải, nhưng không thống nhất được về chiều rộng lãnh hải. Năm 1942, Anh phải ký kết với Venezuela chia vịnh Pariát (lúc đó do Anh kiểm soát) tạo ra tiền lệ đầu tiên về việc phân chia đáy biển.

Chiến sĩ đảo Sơn Ca, huyện đảo Trường Sa (Khánh Hòa) luyện tập trên thao trường.  Ảnh: tintuc.vn

Sau chiến tranh thế giới thứ II, Hoa Kỳ khẳng định các quyền bảo vệ nghề cá của mình đối với các vùng biển ngoài lãnh hải, đặc biệt "Tuyên bố Tơruman" (năm 1945) của Hoa Kỳ đã khẳng định chủ quyền đối với tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của thềm lục địa của mình. Tuyên bố không đề cập cụ thể đến giới hạn của thềm lục địa, nhưng lúc đó được hiểu là ra đến độ sâu 200 mét nước. Nhiều nước đã nhanh chóng theo chân Mỹ tuyên bố chủ quyền đối với tài nguyên thềm lục địa tạo ra một vấn đề mới của Luật Biển quốc tế. Tuy nhiên, có một số nước như Pêru, Chi lê và Êcuađo, không có thềm lục địa và rất quan tâm đến nguồn tài nguyên biển chủ yếu của họ là cá, lại đòi hỏi chủ quyền đối với một vùng biển rộng tới 200 hải lý.

Để giải quyết những vấn đề trên, năm 1958 Liên Hợp quốc đã triệu tập Hội nghị Luật Biển lần thứ I tại Giơnevơ với 86 nước tham dự. Kết quả là Hội nghị đã thông qua được 4 công ước quốc tế về Luật Biển: Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp, Công ước về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật, Công ước về thềm lục địa, Công ước về biển cả. Tại Hội nghị, các cường quốc biển như Anh, Mỹ đều không muốn thay đổi chiều rộng lãnh hải 3 hải lý, nên mặc dù các công ước đã đưa ra được những quy định về thiết lập đường cơ sở thẳng, về lãnh hải, vùng tiếp giáp để kiểm soát hải quan thuế khoá, nhập cư, vệ sinh dịch tễ và quyền đi qua không gây hại... Nhưng một số vấn đề cơ bản vẫn chưa được giải quyết. Đó là việc thống nhất về chiều rộng lãnh hải, quyền đi qua các eo biển quốc tế các giới hạn vùng đánh cá và ranh giới ngoài của thềm lục địa. Liên Hợp quốc đã phải triệu tập Hội nghị Luật Biển lần thứ II vào năm 1960 cũng tại Giơnevo để giải quyết các tồn tại này. Một số nước đề nghị quy định bề rộng lãnh hải là 12 hải lý, Mỹ và Canada đề nghị quy định lãnh hải 6 hải lý, vùng đánh cá 6 hải lý. Cuối cùng Hội nghị này không đạt được thỏa thuận quốc tế nào.

Do sự phát triển vượt bậc của khoa học - kỹ thuật, các hoạt động mọi mặt trên biển đã được triển khai một cách mạnh mẽ, rộng rãi, quy mô ngày càng lớn. Tình hình đó đòi hỏi phải có Hội nghị quốc tế mới về Luật Biển và Liên Hợp quốc đã đứng ra tổ chức Hội nghị quốc tế quan trọng này.

Sau 5 năm trù bị (1967 - 1972) và qua 9 năm thương lượng (1973 - 1982) với 11 khóa họp, Hội nghị của Liên Hợp quốc về Luật Biển lần thứ III đã thông qua một Công ước mới của Liên Hợp quốc về Luật Biển ngày 30/4/1982 với tỷ lệ 130 phiếu thuân, 4 phiếu chống, 17 phiếu trắng và 2 nước không tham gia bỏ phiếu. Sau đó, ngày 10/12/1982, 117 đoàn đại diện cho các nước trong đó có Việt Nam đã chính thức ký kết Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển. Đến tháng 11/1996 đã có 108 nước phê chuẩn, Công ước đã có hiệu lực từ ngày 16/11/1994. Công ước được xây dựng theo nguyên tắc "cả gói" bao hàm tất cả các khía cạnh liên quan đến Luật Biển và được các quốc gia chấp nhận theo nguyên tắc "nhất trí" (consensus - không có phản đối), không được bảo lưu đối với từng nội dung riêng biệt quy định trong Công ước. Công ước mới về Luật Biển năm 1982 bao gồm 17 phần với 320 điều khoản, 9 phụ lục với hơn 100 điều khoản và 4 nghị quyết kèm theo, chứa đựng khoảng 1.000 quy phạm luật pháp quốc tế. Đây là một văn kiện quốc tế tổng hợp toàn diện, bao quát được tất cả những vấn đề quan trọng nhất về chế độ pháp lý của biển và đại dương thế giới, xác định rõ ràng quyền và nghĩa vụ của mọi loại quốc gia (có biển cũng như không có biển, phát triển hay đang phát triển...) về nhiều mặt như an ninh, bảo vệ môi trường, khai thác tài nguyên, giao thông và liên lạc nghiên cứu khoa học và công nghệ... đối với các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia cũng như đối với những vùng biển ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia. Công ước cũng đã định ra trình tự và thủ tục giải quyết các tranh chấp trên biển giữa các quốc gia bằng biện pháp hoà bình và thông qua cơ quan tài phán của Liên Hợp quốc.

Trong quá trình Hội nghị lần thứ III của Liên Hợp quốc về Luật Biển, nắm bắt được xu thế tiến bộ chung, ngày 12/5/1977, sau khi được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam chuẩn y, Chính phủ ta đã ra Tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là một trong những tuyên bố sớm nhất theo tinh thần Công ước ở trong khu vực Đông Nam Á. Tuyên bố của ta hoàn toàn phù hợp với các quy định của Công ước và có hiệu lực cho đến nay. Từ sau Tuyên bố lịch sử đó của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Việt Nam đã xác định về nguyên tắc phạm vi của các vùng nội thuỷ, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa.

Tiếp theo đó, ngày 12 tháng 11 năm 1982 Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rông lãnh hải Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý để xác định phạm vi các vùng biển và thềm lục địa Việt Nam.

Trong xu hướng chung của Cộng đồng quốc tế, tháng 6 năm 1994, Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Nghị quyết về việc phê chuẩn công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Bằng việc phê chuẩn này, Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển; khẳng định chủ quyền của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đối với vùng nội thủy, lãnh hải, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia đối với vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế; đồng thời một lần nữa khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Phạm vi nội thủy

Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định: "Các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải là nội thủy của quốc gia" (Điều 8); Theo định nghĩa này thi nội thuỷ bao gồm cửa sông, vũng, vịnh, cảng biển và vùng nước ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển... vùng nước lịch sử cũng theo chế độ nội thủy.

Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: "Vùng biển ở phía trong đường cơ sở và giáp với bờ biển là nội thủy của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (Phụ lục 1, Điều 1). Nội thủy được coi như là bộ phận lãnh thổ trên đất liền của một quốc gia.

Phạm vi lãnh hải

Trong đời sống hàng ngày, chúng ta thường nghe thấy các từ dùng để chỉ phạm vi vùng biển của quốc gia như "hải phận", "vùng biển" hoặc "lãnh hải" Việt Nam. Vậy cần phải hiểu các thuật ngữ đó như thế nào? Có thể nói rằng, trừ các tài liệu chuyên môn, thông thường việc sử dụng các thuật ngữ trên trong đời sống, hoặc được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tất cả các vùng biển của Việt Nam nói chung, hoặc là có sự lầm lẫn về mặt phạm vi và chế độ pháp lý của các vùng biển khác nhau của nước ta. Ngày nay khi mà biển ngày càng có vai trò quan trọng trong đời sống và sự nghiệp phát triển kinh tế, bảo vệ Tổ quốc và ngày càng trở nên gần gũi với cuộc sống thường nhật của nhân dân thì việc tìm hiểu một cách rõ ràng và chính xác các khái niệm về vùng biển của đất nước, trong đó bao hàm các quyền và lợi ích quốc gia trên biển cũng như trách nhiệm bảo vệ chủ quyền trên biển, là một việc cần thiết và bổ ích.

Theo Luật Biển quốc tế hiện đại, một quốc gia ven biển có thể có các vùng biển như sau: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa với phạm vi và chế độ pháp lý khác nhau. Lãnh hải là một khái niệm lâu đời nhất trong Luật Biển, nhưng không phải thế mà hiện nay đã trở thành một vấn đề cũ, không có ý nghĩa thực tiễn.

Lãnh hải ra đời là do quá trình sử dụng và khai thác biển và đại dương, các quốc gia ven biển có nhu cầu quản lý một dải biển ven bờ để ngăn chặn việc buôn lậu và xâm nhập trái phép vào lãnh thổ của mình, bảo vệ nghề cá và quyền lợi của ngư dân. Về sau này có thêm nhu cầu bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên biển phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế của đất nước; mặt khác các cường quốc hàng hải và công nghiệp không muốn các quốc gia ven biển mở rộng chủ quyền ra biển để tự do đi lại, không chế biển và tài nguyên thiên nhiên biển. Từ thế kỷ thứ XVIII, xuất hiện thuyết lãnh hải của một quốc gia ven biển chỉ được mở rộng đến tầm hiệu lực của vũ khí thời đó là súng thần công - 3 hải lý. Mặc dù có một số nước quy định lãnh hải rộng 4 hoặc 6 hải lý, nhưng trong thế kỷ XIX quy định chiều rộng lãnh hải 3 hải lý trở thành tiêu chuẩn của luật tập quán quốc tế. Tuy nhiên sau đó, cuộc đấu tranh về việc xác định chiều rộng lãnh hải lại tiếp tục.

Một số quốc gia vì quyền lợi biển của mình đòi quy định lãnh hải rộng 200 hải lý. Hội nghị quốc tế về pháp điển hóa Luật quốc tế năm 1930 và Hội nghị Luật Biển lần thứ I năm 1958 cũng không giải quyết dứt điểm những quy định chung của luật pháp quốc tế về chiều rộng của lãnh hải. Mãi đến năm 1982, Công ước Luật Biển của Liên Hợp quốc mới quy định chiều rộng tối đa của lãnh hải là 12 hải lý, nhưng đồng thời cũng phải đưa thêm các chế định luật pháp quốc tế mới về vùng đặc quyền về kinh tế và thềm lục địa để dung hoà hai xu hướng nói trên. Hiện nay, chế định luật pháp quốc tế về lãnh hải với tư cách là lãnh thổ của quốc gia ven biển ở trên biển có chiều rộng tối đa là 12 hải lý, tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, đã trở thành quy định của luật tập quán quốc tế được mọi người thừa nhận. Sau tháng 11/1994 khi Công ước năm 1982 của Liên Hợp quốc về Luật Biển có hiệu lực, các quy định về lãnh hải của Công ước cũng trở thành các quy định của Luật điều ước quốc tế.

Lãnh hải (hay còn gọi là "vùng nước lãnh thổ") là một dải biển ven bờ nằm ngoài và tiếp liền với lãnh thổ đất liền hoặc nội thủy của quốc gia ven biển, có một chiều rộng nhất định được tính từ đường cơ sở của quốc gia đó và thuộc chủ quyền hoàn toàn của quốc gia ven biển. Chủ quyền này được mở rộng và áp dụng đối với cả vùng trời trên lãnh hải cũng như đối với đáy biển và lòng đất dưới đáy của lãnh hải.

Đối với quốc gia quần đảo, lãnh hải nằm ngoài và tiếp liền với lãnh thổ và vùng nước quần đảo của quốc gia đó.

Đối với các đảo riêng biệt, đáp ứng đúng định nghĩa đảo nếu trong luât pháp quốc tế (Điều 121, Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982) thuộc về một quốc gia ven biển, nhưng nằm ngoài phạm vi lãnh hải chung của quốc gia đó, thì lãnh hải của từng đảo này cũng được xác định như trên.

Chiều rộng lãnh hải do quốc gia ven biển tự mình ấn định và được tính từ đường cơ sở, nhưng phải tuân theo các nguyên tắc và tiêu chuẩn chung được thừa nhận của luật pháp quốc tế. Đường cơ sở thông thường của quốc gia ven biển dùng để tính chiều rộng lãnh hải là ngấn nước triều thấp nhất dọc theo bờ biển, ở nơi nào bờ biển bị khoét sâu và lồi lõm hoặc nếu có một chuỗi đảo nằm sát ngay và chạy dọc theo bờ biển thì áp dụng phương pháp đường cơ sở thẳng, tức là phương pháp nối liền các điểm thích hợp có thể được sử dụng để vạch đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Quốc gia ven biển có thể áp dụng một trong hai phương pháp trên hoặc phối hợp cả hai phương pháp để ấn định đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của nước mình, nhưng phải theo đúng các nguyên tắc và tiêu chuẩn chung được thừa nhận của luật pháp quốc tế về việc vạch hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Đại đa số quốc gia trên thế giới quy định chiều rộng lãnh hải từ 3-12 hải lý. Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 quy định chiều rộng lãnh hải của quốc gia ven biển không quá 12 hải lý, kể từ đường cơ sở được vạch ra theo đúng Công ước.

Có thể nhận thấy một điểm quan trọng ở đây là, trước đây nếu theo các Công ước về Luật Biển năm 1958, vùng biển ở ngay ngoài ranh giới ngoài của lãnh hải - biên giới quốc gia trên biển - là vùng biển cả (hay còn thường được gọi là công hải) thì nay, theo Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 tiếp liền ranh giới ngoài của lãnh hải, quốc gia ven biển còn có vùng đặc quyền kinh tế thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia. Biển cả nằm ngoài ranh giới ngoài của vùng đặc quyền kinh tế quốc gia ven biển. Ngoài ra, đối với đáy và lòng đất dưới đáy biển ở ngoài và tiếp liền với lãnh hải, quốc gia ven biển còn có vùng thềm lục địa thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia được Công ước 1982 xác định đầy đủ và cụ thể hơn so với Công ước năm 1958.

Khi nói "vùng biển Việt Nam", "hải phận Việt Nam" ta hiểu rằng điều này có thể bao hàm cả nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Khi nói "lãnh hải Việt Nam", ta chỉ nói đến một vùng biển rộng 12 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải mà ở đó, nước Việt Nam có chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn, tàu thuyền nước ngoài có thể được hướng quyền đi qua không gây hại trong lãnh hải với điều kiện không làm ảnh hưởng đến trật tự, luật pháp, hoà bình, an ninh của nước ta và phải đi theo các tuyến, luồng hàng hải quy định. "Phao số không", do đó không có ý nghĩa gì trong việc xác định phạm vi chủ quyền quốc gia của nước ta trên biển. Diện tích của nước Việt Nam, cùng với các quy định mới của Luật Biển quốc tế, đã có những thay đổi đáng kể so với hình ảnh truyền thống của nó.

Phạm vi vùng tiếp giáp lãnh hải

Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982 đã quy định phạm vi vùng tiếp giáp như sau:

+ Ở trên một vùng giáp với lãnh hải, được gọi là vùng tiếp giáp lãnh hải.

+ Vùng tiếp giáp không thể mở rộng quá 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Như vậy, vùng tiếp giáp theo định nghĩa của Công ước Luật Biển năm 1982 có chiều rộng là 12 hải lý. Khác với quan điểm của Công ước Giơnevơ năm 1958 ở chỗ Công ước Luật Biển năm 1982 không nói vùng tiếp giáp nằm trong một vùng biển cả vì theo Công ước mới ngoài lãnh hải là vùng đặc quyền về kinh tế thuộc quyền chủ quyền của nước ven biển.

Tuyên bố ngày 12/5/1977 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định vùng tiếp giáp là vùng biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải, có chiều rộng là 12 hải lý và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam.

Phạm vi thềm lục địa

Hiện nay, khái niệm "thềm lục địa", "thềm lục địa Việt Nam" đã trở nên quen thuộc với mọi người. Tuy nhiên, không phải mọi vấn đề liên quan đến phạm vi, chế độ pháp lý của thềm lục địa đã được hiểu biết một cách rõ ràng: thềm lục địa là gì? người ta xác định thềm lục địa như thế nào? thềm lục địa có phải là lãnh thổ của quốc gia ven biển, ở đó người ta có lợi ích và quyền gì? Tại sao lại là thềm lục địa Việt Nam?...

Khái niệm về thềm lục địa

Khái niệm về thềm lục địa trong khoa học pháp lý là kết quả của các thành tựu khoa học, kỹ thuật biển từ hơn 1/2 thế kỷ đến nay. Kết quả cho phép con người đi xuống các tầng sâu của đáy biển và phát hiện các nguồn tài nguyên giàu có ở đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, được thúc đẩy bởi nhu cầu của con người muốn làm chủ và khai thác các nguồn tài nguyên đó phục vụ cho đời sống và phát triển, vượt qua các khó khăn về dân số và sự cạn kiệt dần dần về tài nguyên lục địa.

Vào thời xa xưa, con người còn hình dung là biển không có đáy, từ khi khoa học chứng minh được sự tồn tại của đáy biển với địa hình nhấp nhô đa dạng như trên đất liền thì đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm ngoài giới hạn lãnh hải về cơ bản luôn được coi là bộ phận của biển cả, không thuộc quyền của quốc gia ven biển nào.

Năm 1942, lần đầu tiên trong lịch sử, vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển trong Vịnh Pariat nằm ngoài giới hạn của lãnh hải mà trước đó luôn được coi là bộ phận của biển cả (biển quốc tế, biển công), đã được hai quốc gia là Anh và Vênêzuêla phân chia cùng với sự thừa nhận các quyền thuộc chủ quyền của mỗi quốc gia đối với vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển tương ứng.

Tuy nhiên, khái niệm tương đối đầy đủ đầu tiên về thềm lục địa được chính thức nêu ra vào đầu năm 1945 bởi Tuyên bố của Tổng thống Mỹ Harry Truman về "Chính sách của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đối với tài nguyên thiên nhiên của đáy biển và lòng đất dưới đáy của thềm lục địa". Trong đó, Mỹ thừa nhận thềm lục địa là sự mở rộng lãnh thổ đất liền của quốc gia ven biển kế cận có quyền tài phán và kiểm soát đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên của đáy và lòng đất dưới đáy của thềm lục địa nằm tiếp giáp với lãnh thổ lục địa của quốc gia ven biển.

Thềm lục địa theo Công ước năm 1958:

Bắt đâu từ thời điểm này, học thuyết về thềm lục địa phát triển và đi vào cuộc sống của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên đến năm 1958, người ta mới thành công trong việc pháp điển hoá khái niệm thềm lục địa trong Luật Biển quốc tế bằng việc thông qua Công ước Giơnevơ về thềm lục địa cùng 2 Công ước khác về lãnh hải và vùng tiếp giáp, về biển cả, về đánh bắt cá và bảo vệ tài nguyên sinh vật ở biển cả. Ngày 10/6/1964, Công ước về thềm lục địa bắt đầu có hiệu lực sau khi 22 nước phê chuẩn và tham gia. Vào thời điểm này, khoa học cho rằng, vùng biển chạy thoai thoải từ lục địa ra biển đến nơi có sự thay đổi độ dốc đột ngột chính là sự mở rộng tự nhiên của lục địa dưới biển và là thềm lục địa. Độ sâu trung bình của một thềm lục địa (nơi có sự biến đổi độ dốc) là khoảng 200 mét nước. Công nghệ khai thác biển lúc đó cũng chỉ cho phép đến độ sâu 200 mét tối đa. Do đó, Công ước năm 1958 đã xác định phạm vi "thềm lục địa pháp lý" như sau:

"... thuật ngữ "thềm lục địa" được sử dụng để chỉ: (a) đáy và lòng đất dưới đáy của các khu vực biển tiếp giáp với bờ biển nhưng nằm ngoài lãnh hải và ra đến độ sâu 200 mét nước; hoặc vượt ra ngoài giới hạn đó đến khu vực có độ sâu cho phép khai thác được tài nguyên thiên nhiên của đáy và lòng đất dưới đáy biển; (b) để chỉ đáy và lòng đất dưới đáy biển của khu vực biển tương tự tiếp giáp với bờ của đảo".

Công ước năm 1958 lần đầu tiên khẳng định quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa trên cơ sở tiếp giáp với bờ biển (sự mở rộng tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra biển) chứ không phải theo nguyên tắc của sự chiếm hữu. Có thể thấy rằng ở đây, phạm vi thềm lục địa tự nhiên và "thềm lục địa pháp lý" tương đối trùng nhau, bắt đầu từ đường bờ (thềm lục địa tự nhiên) hay từ ranh giới ngoài của lãnh hải (thềm pháp lý) ra đến nơi có độ sâu 200 mét nước hoặc đến độ sâu khả năng kỹ thuật cho phép khai thác được tài nguyên thiên nhiên. Các đảo (vùng đất tự nhiên có nước bao bọc xung quanh luôn luôn cao hơn mức nước triều lớn nhất) cũng có thềm lục địa như vậy. Để xác định phạm vi thềm lục địa, người ta áp dụng hai nguyên tắc: nguyên tắc về độ sâu (200 mét nước) và nguyên tắc về kỹ thuật (khả năng cho phép khai thác).

Thềm lục địa theo Công ước năm 1982 của Liên Hợp quốc về Luật Biển

Sự phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ biển đã nhanh chóng làm cho các quy định về xác định phạm vi thềm lục địa của Công ước năm 1958 trở nên không phù hợp. Người ta phát hiện ra rằng, về mặt địa chất, sự mở rộng tự nhiên của lãnh thổ đất liền ra biển không kết thúc ở mép thềm lục địa tự nhiên mà là ở bờ ngoài của rìa lục địa; quy định về độ sâu cho phép khai thác không cố định và khó xác định cụ thể; về mặt lý thuyết con người đã có thể khai thác được tài nguyên ở bất cứ độ sâu nào. Các quốc gia mới giành được độc lập muốn có tiếng nói trong việc xác định trật tự pháp lý quốc tế mới trên biển, trong đó có việc xác định một cách phù hợp và chính xác hơn phạm vi của thềm lục địa và chế độ pháp lý của nó để bảo vệ các quyền và lợi ích trên biển của mình phục vụ cho sự phát triển.

Công ước năm 1982 quy định, "thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến giới hạn cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lý khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn" (Điều 76).

Như vậy thềm lục địa pháp lý của quốc gia ven biển là sự kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền, bao gồm toàn bộ rìa lục địa (thềm lục địa tự nhiên, dốc lục địa và bờ ngoài của rìa lục địa).

Ở nơi nào, rìa lục địa không ra đến 200 hải lý thì thềm lục địa pháp lý được mở rộng ra đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Ở nơi nào, rìa lục địa vượt quá 200 hải lý thì ranh giới ngoài của thềm lục địa được xác định; nối các điểm ở nơi mà bề dày trầm tích ít nhất cũng bằng 1% khoảng cách từ các điểm đó đến chân dốc lục địa, hoặc nối các điểm cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý.

Tuy nhiên, dù được xác định như trên, giới hạn tối đa của thềm lục địa cũng không được vượt quá 350 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải hay không được cách đường đẳng sâu 2.500 mét nước một khoảng cách vượt quá 100 hải lý.

Để xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa, luật quốc tế sử dụng và kết hợp 3 yếu tố: khoảng cách (200, 350, 60, 100 hải lý), yếu tố địa chất (sự kéo dài tự nhiên, rìa lục địa, bề dày trầm tích 1%, chân dốc lục địa) và độ sâu (đường đẳng sâu 2.500 mét).

Đối với các đảo xa bờ của quốc gia ven biển nếu thích hợp cho con người sinh sống và có đời sống kinh tế riêng thì mới được hưởng vùng thềm lục địa riêng của đảo đó.

Phạm vi vùng đặc quyền về kinh tế

Chúng ta đã xem xét quá trình hình thành của Luật Biển quốc tế và các quy định của pháp luật quốc tế liên quan đến lãnh hải và thềm lục địa của quốc gia ven biển. Để có được bức tranh toàn cảnh về các vùng biển và thềm lục địa thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, điều cần thiết là phải nghiên cứu và nắm rộng thêm phạm vi và chế độ pháp lý của vùng đặc quyền về kinh tế, một trong những chế định pháp lý quốc tế mới nhất và quan trọng nhất của Công ước của Liên Hợp quốc về Luật Biển năm 1982.

Điều này có nghĩa là, theo Công ước các quốc gia ven biển có quyền hoạch định một vùng đặc quyền về kinh tế rộng tới 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải, bao gồm môt vùng biển và đáy biển rộng khoảng 137 triệu km2 (bằng 1/3 diện tích biển và 1/4 diện tích trái đất) của thế giới được đặt dưới chế độ pháp lý của vùng đặc quyền về kinh tế, chứa khoảng 85% toàn bộ tài nguyên sinh vật và 87% tài nguyên dầu khí của biển và đại dương. Ngoài ra, để xác định phạm vi vùng đặc quyền về kinh tế của mình, các nước ven biển sẽ phải giải quyết và thiết lập hàng trăm đường ranh giới biển chung.

Chế định pháp lý về vùng đặc quyền về kinh tế được ghi nhận là một trong những thành quả đấu tranh xây dựng một trật tự pháp lý mới trên biển của các nước đang phát triển. Một điều đáng chú ý là do tính chất thiết thực về quyền và lợi ích và tính tương đối để xác định về phạm vi không gian mà các quy định của Công ước đối với vùng đặc quyền về kinh tế đã nhanh chóng trở thành tập quán quốc tế trước khi Công ước có hiệu lực. Thậm chí nhiều quốc gia đã ban hành quy định về vùng đặc quyền về kinh tế của mình ngay trong thời gian Hội nghị Luật Biển lần thứ 3 đang họp và Công ước chưa được ký kết.

Chẳng hạn, một số nước như Pêru, Chilê và Êcuađo, không có điều kiện tự nhiên để xác định thềm lục địa nhưng lại rất quan tâm đến nguồn tài nguyên biển chủ yếu của họ là cá, bắt đầu đưa ra đòi hỏi chủ quyền đối với một vùng biển rộng tới 200 hải lý.

Năm 1952, tại Hội nghị lần thứ nhất về khai thác và bảo tồn tài nguyên biển của Nam Thái Bình Dương tổ chức tại Xan Chiagô, ba nước Chilê, Êcuađo và Pêru đã ra tuyên bố quy định chủ quyền và quyền tài phán quốc gia riêng biệt đối với vùng biển rộng 200 hải lý kế cận bờ biển của mình, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy. Các nước khác chỉ được hưởng quyền đi qua không gây hại trong vùng nước này. Sau đó Côxta Rica đã gia nhập tuyên bố này. Năm 1954, các nước trên lại nhắc lại các nguyên tắc này trong thỏa thuận Lima ký kết tại Hội nghị lần thứ hai về khai thác và bảo tồn tài nguyên biển ở Nam Thái Bình Dương. Đây thực chất là yêu sách đòi hỏi lãnh hải rộng 200 hải lý.

Tuy nhiên, yêu sách đòi mở rộng chủ quyền quốc gia đối với lãnh hải trên đây đã gặp phải sự phản đối mạnh mẽ của nhiều quốc gia trên thế giới. Năm 1972, Côxta Rica, nước tham gia tuyên bố Xan Chiagô, đã từ bỏ khái niệm lãnh hải 200 hải lý và thiết lập một vùng gọi là "vùng biển di sản quốc gia" trong đó có cả lãnh hải, mà ở đó Côxta Rica có quyền tài phán riêng biệt đối với việc bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên cho dân tộc mình, nhưng không phương hại đến chế độ pháp lý của biển cả đối với vùng biển này như các Công ước quốc tế đã quy định.

Quyết định trên đây của Côxta Rica là đòn bẩy để đại đa số các nước Mỹ La tinh tại Hội nghị các nước vùng biển Caribê thông qua tuyên bố Xantô Đôminggô ngày 7/6/1972. Tuyên bố này chủ trương cần thiết lập lãnh hải với chiều rộng thống nhất 12 hải lý và cho phép tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại, đồng thời thiết lập "vùng biển di sản quốc gia" rộng không quá 200 hải lý trong đó quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên sinh vật và không sinh vật, điều chỉnh hoạt động nghiên cứu khoa học, có biện pháp phòng chống ô nhiễm biển, đồng thời các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải, tự do hàng không, tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm. Phía ngoài của "vùng biển di sản quốc gia" là biển cả. Mặc dù tuyên bố Xantô Đôminggô là một bước tiến quan trọng so với tuyên bố Xan Chiagô, nhưng nó vẫn được coi là một cố gắng của các nước Mỹ La tinh muốn hợp thức hoá quyền sở hữu của họ đối với một vùng biển rộng lớn thông qua tên gọi "vùng biển di sản quốc gia". Dần dần, các nước Mỹ La tinh đã chuyển thái độ và đi đến chấp nhận khái niệm "vùng kinh tế".

Các nước Á- Phi về phần mình, cũng tham gia tích cực vào trào lưu mới này để giành lấy những quyền lợi mới trên biển cho dân tộc, quốc gia mình. Tại Hội nghị Côlômbô (năm 1971) của Ủy ban Tư vấn pháp lý Á - Phi, Kênia đưa ra một phạm trù mới dưới tên gọi "vùng kinh tế" và được coi như môt giải pháp dung hòa: vùng kinh tế không phải là lãnh hải, nước ven biển không có chủ quyền hoàn toàn ở trong vùng biển này. Vùng biển này có đặc trưng về kinh tế, nước ven biển chỉ có những quyền về kinh tế; các nước khác được tự do hàng hải, tự do bay, đặt dây cáp ngầm, ống dẫn ngầm theo chế độ tự do như các nước Mỹ La tinh chủ trương ở hội nghị nói trên. Tiếp đó, Hội nghị các nước khu vực châu Phi về các vấn đề Luật Biển tổ chức tại Iuabđê (Youandé) tháng 6/1972 đã chú trọng các nước ven biển có quyền thiết lập vùng kinh tế trong đó họ có quyền tài phán riêng biệt nhằm mục đích kiểm soát, điều chỉnh và khai thác một cách hợp lý các tài nguyên sinh vật của vùng biển này. Hội nghị khuyến nghị các nước châu Phi mở rộng "chủ quyền đối với tất cả tài nguyên trong vùng kinh tế. Các nước không có biển và gần như không có biển được quyền tham gia khai thác tài nguyên sinh vật của vùng kinh tế.

Vào tháng 7/1972, Kênia lần đầu tiên đưa ra tại Ủy ban của Liên Hợp quốc về sử dụng hoà bình đáy biển và đại dương nằm ngoài giới hạn quyền tài phán quốc gia một đề án các điều khoản cho phép các quốc gia ven biển thiết lập vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Theo đề án này, trong vùng đặc quyền về kinh tế, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với tài nguyên của khối nước, đáy biển và lòng đất dưới đáy nhằm mục đích thăm dò và khai thác chúng. Quốc gia ven biển cũng có quyền ban hành luật để ngăn ngừa ô nhiễm môi trường và tiến hành việc nghiên cứu khoa học. Bản đề án cũng quy định một số quyền lợi của các quốc gia đang phát triển không có biển hoặc hầu như không có biển trong vùng kinh tế. Tiếp theo đó, tại Ủy ban về đáy biển, người ta đã đưa ra và thảo luận nhiều ý kiến và đề án khác liên quan đến việc mở rộng quyền tài phán của quốc gia ven biển.

Về phía các nước công nghiệp phát triển phương Tây, họ tỏ ra rất lo ngại việc các nước đang phát triển ven biển "lãnh hải hoá" một vùng biển rộng lớn ra tới 200 hải lý, cản trở và ngăn chặn việc giao thông hàng hải và những tự do khác đã trở thành thông dụng trong thời gian dài từ nhiều thế kỷ đã qua. Vì không có cách nào, đặc biệt về mặt chính trị, để bác bỏ được việc các nước đang phát triển thiết lập vùng kinh tế, họ buộc phải chấp nhận thương lượng và cho rằng nước ven biển chỉ được hưởng một số quyền ưu đãi nào đó, nhưng vùng biển mới dự kiến được thành lập phải thuộc biển cả và đặt dưới chế độ tự do biển cả. Mặt khác, có thế thấy rằng phần lớn trong số các nước tư bản phát triển cũng sẽ được hưởng lợi từ việc thiết lập vùng biển như vậy do họ thường là các nước có bờ biển dài, rộng lớn, giàu tài nguyên thiên nhiên và có đủ công nghệ, kỹ thuật để khai thác chúng. Các nuớc tư bản phát triển đứng trước tình thế tiến thoái lưỡng nan. Bởi vì vùng biển tài sản quốc gia, theo cách gọi của các nuớc Á - Phi đã là một thực tế đi vào đời sống của nhiều nước và đã được quy định dưới hình thức luật quốc gia. Nếu chống lại khuynh hướng này, các nước đang phát triển có khả năng tiến tới “lãnh hải hoá" thực sự vùng kinh tế, và như vậy sẽ có tác hại về nhiều mặt, đặc biệt về hàng hải đối với các nước phát triển. Do đó các nước này buộc phải đi tới tìm một giải pháp ít có hại nhất cho họ trong vấn đề này.

Các Hội nghị lần thứ nhất (năm 1938) và lần thứ hai (năm 1960) của Liên Hợp quốc không ghi nhận gì về đòi hỏi vùng biển rộng 200 hải lý cho quốc gia ven biển. Tại Hội nghị năm 1958, người ta đã thông qua Công ước về đánh bắt và bảo tồn tài nguyên sinh vật ở biển cả. Công ước này có hiệu lực vào năm 1966 và có 35 nước tham gia nhưng hiệu lực rất hạn chế do hầu như không có cường quốc đánh cá nào thừa nhận. Hội nghị năm 1960 đã thất bại mà không đạt được thỏa thuận nào mặc dù đã cố gắng thiết lập một vùng đánh cá đặc quyền rộng 12 hải lý.

Vùng đặc quyền về kinh tế là một vấn đề được thảo luận gay cấn nhất tại Hội nghị Luật Biển lần thứ ba (1973 - 1982) và người ta đạt được môt giải pháp cân bằng giữa một bên là quyền lợi của các nước ven biển được mở rộng ra ở một vùng biển mới, và môt bên khác là những quyền và tự do biển cả mà các nước phát triển tìm cách bảo vệ, đó là vùng biển mới, không gọi là vùng biển tài sản quốc gia, hay vùng kinh tế ngắn gọn, mà là vùng đặc quyền về kinh tế có một quy chế pháp lý riêng biệt. Vùng đặc quyền về kinh tế không phải là lãnh hải, mà cũng không phải là biển cả.

Đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ảnh: thanhnien.vn

Phạm vi của vùng đặc quyền về kinh tế

Công ước năm 1982 lần đầu tiên đã xác định rõ quốc gia ven biển có các quyền thiết lập vùng đặc quyền về kinh tế.

Vậy phạm vi của vùng đặc quyền về kinh tế được tính từ đâu giới hạn của nó ra sao?

Điều 57 của Công ước về chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế nêu rõ:

"Vùng đặc quyền về kinh tế không mở rộng ra quá 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải".

Như vậy, vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng biển kế cận với bờ biển của một quốc gia ven biển và không được mở rộng quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải.

Cơ sở kỹ thuật để xác định chiều rộng vùng đặc quyền kinh tế là giống như cơ sở dùng để xác định chiều rộng của lãnh hải. Chúng ta biết rằng Công ước của Liên Hợp quốc đã đưa ra những quy định chặt chẽ trong việc xác định hệ thống đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của một quốc gia ven biển (Điều 5, Điều 7). Theo yêu cầu của Công ước, đường cơ sở của mỗi quốc gia phải được vạch ra theo đúng quy định trong Công ước. Nói một cách khác, ranh giới ngoài của lãnh hải cũng như của vùng đặc quyền kinh tế phải được xác định trên cơ sở môt hệ thống đường cơ sở được quốc gia ven biển thiết lập theo Công ước. Nếu không như vậy, việc xác định chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế của một quốc gia ven biển có thể trở thành vấn đề trong quan hệ đối với các bên liên quan khác và không được thừa nhận.

Một vấn đề khác trong việc xác định chiều rộng của vùng đặc quyền kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối diện nhau khi có các vùng chồng lấn ở vùng đặc quyền kinh tế. Trong trường hợp đó các quốc gia phải căn cứ vào pháp luật quốc tế để tiến hành hoạch định ranh giới vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn như Điều 74 Công ước đã quy định.

Việc xác định giới hạn của vùng đặc quyền kinh tế như thế nào? Theo Công ước, chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế tối đa không vượt quá 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng, quốc gia ven biển cũng có quyền xác định lãnh hải có chiều rộng tối đa là 12 hải lý tính từ đường cơ sở. Quy chế pháp lý của lãnh hải là hoàn toàn khác với quy chế pháp lý của vùng đặc quyền về kinh tế. Mặt khác, các quyền ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm có thể xảy ra trong lãnh hải và lãnh thổ của quốc gia ven biển về y tế, thuế quan và nhập cư mà quốc gia đó được hưởng trong vùng tiếp giáp lãnh hải chỉ là một số quyền năng cụ thể không hề ảnh hưởng đến quy chế pháp lý của vùng đặc quyền về kinh tế. Điều 55 của Công ước viết rõ: "Vùng đặc quyền về kinh tế là một vùng nằm ở phía ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải". Ta đi đến kết luận rằng lãnh hải không thể là một bộ phận của vùng đặc quyền kinh tế. Tuy nhiên, vùng tiếp giáp lại được coi như một phần của vùng đặc quyền về kinh tế. Như vậy, quốc gia ven biển có thể quy định chiều rộng của vùng đặc quyền về kinh tế của mình tối đa chỉ là 188 hải lý.

Một điều cần lưu ý là, do gốc gác của khái niệm vùng đặc quyền về kinh tế xuất phát từ các nước lệ thuộc nhiều vào việc khai thác nguồn lợi hải sản trên biển và do Công ước có ghi nhận một chế định khác liên quan đến vùng thềm lục địa của quốc gia ven biển nên trong thực tiễn, đôi khi người ta chỉ lưu ý đến nguồn tài nguyên sinh vật tồn tại trong khi nước của vùng đặc quyền về kinh tế. Cần nhấn mạnh là phạm vi của vùng đặc quyền kinh tế không chỉ bao gồm khối nước và tài nguyên sinh vật ở đó mà là cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển ở phía dưới khối nước rạng 200 hải lý tính từ đường cơ sở đó, với tất cả các loại tài nguyên nằm trong đó.

Cần lưu ý là đối với các đảo của quốc gia ven biển nếu thích hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng mới được hưởng quyền có vùng đặc quyền về kinh tế riêng.

Là một nước ven biển, Việt Nam đã tích cực tham gia đóng góp vào tiến trình và kết quả pháp điển hoá Luật Biển quốc tế mới tại Hội nghị Luật Biển của Liên Hợp quốc lần thứ 3, mặt khác đã từng bước ban hành các văn bản pháp lý và tiến hành các biện pháp nhằm quản lý các vùng biển và thềm lục địa của đất nước, trong đó có vùng đặc quyền về kinh tế.

(Còn nữa)

Bình luận bài viết

Bình luận

BÁO HÀ NAM ĐIỆN TỬ

Giấy phép xuất bản số 68/GP-BTTTT do Bộ Thông tin - Truyền thông cấp ngày 16/2/2017

Địa chỉ: Đình Tràng, phường Lam Hạ, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Tổng Biên tập: Lê Hồng Kỳ

Điện thoại: (0226) 3852.773 - 3853.342 | Fax: (0226)3853.342

Email: baohanam.dientu@gmail.com

Cấm sao chép dưới mọi hình thức nếu không có sự chấp thuận bằng văn bản.